Hai năm trước, qua bài "Tượng Phật nổi trôi" Vũ-Quân đã viết rằng: vì cơn quốc-biến, chúng ta phải ra đi theo nghiệp-dĩ của những bức tượng gỗ trôi nổi muôn phương qua các bờ bến đại-dương xa lạ, ở đó chúng ta không cô-độc vì đã gặp lại những tượng Phật cũ là tiền-nhân...
Tuy thế, tiền-nhân Việt-tộc chỉ trở thành những người di-tản buồn từ khi nước Tàu bành-trướng và toàn-thể lãnh-thổ Bách-Việt bị xâm-lăng. Trước thời-kỳ đen tối đó, tiền-nhân chúng ta từng là những anh-hùng độc-bá đại-dương.
Trong bài này, Vũ-Hữu-San xin trình-bày thành-tích tiền-nhân trong thời vàng son đó. Mời Quý-vị đọc vui trong ngày Xuân.
1 - Trong những thành-tích hiển-hách của Tiền-nhân
Ngày nay, trong những buổi lễ-lạc, đa-số các vị được lên diễn-đàn để nói thì hầu hết đều ca-tụng những chiến-công hiển-hách của của tiền-nhân. Tuy vậy, qua hàng trăm, ngàn bài diễn-văn người ta chưa thấy hoạt-động Hàng-hải của Tổ-tiên được nhắc nhở tới.
Trong những công-trình dựng Nước, mở Nước, giữ Nước trên vùng đất nước quê-hương mà sông biển bao trùm khắp nơi, sự hy-sinh vì nghĩa-vụ với "thân xác tử-sĩ chìm theo sóng nước" nhiều hơn số người "da ngựa bọc thây". Cũng ít ai từng nhắc tới công-lao người chiến-binh suốt những năm tháng dài đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương gió ngoài khơi để bảo-vệ hải-biên, giữ gìn an-ninh cho hệ-thống đường thủy, hay khuyếch-trương hải-thương mong cho nước giàu, dân mạnh...
Và tuyệt-nhiên, chưa bao giờ có ai nhắc nhở tới thành-tích hiển-hách bậc nhất trong lịch-sử loài người mà chúng tôi xin kể sau đây: những chuyến đi xuyên-dương nhiều ngàn năm trước của tiền-nhân Việt-tộc.
2 - Thương-mại và văn-hoá
Trong khi sinh-hoạt với sông biển, người Việt cổ đã tạo-dựng được nhiều thành-tích vĩ-đại. Những truyền-thống hàng-hải lâu đời của dân-tộc vẫn còn tồn-tại đến ngày nay, cho dù hầu hết thành-tích của tiền-nhân đã bị thời-gian chôn vùi vào quên lãng.
Thật thế, ảnh-hưởng của các nền văn-minh cổ-thời Hoà-Bình, Đông-Sơn rất bao la. Vết-tích các nền văn-minh này đi lên Đài-Loan, Nhật-Bản, Tây-Bá-Lợi-Á; qua Phi-luật-Tân, vùng Đa-Đảo; xuống Nam-Dương, Úc-Châu và sang tận Mã-Đảo, Phi-Châu. Công việc chuyển-vận hải-thương đã lôi kéo theo sự truyền-bá văn-hoá trên các bờ biển và hải-đảo xa vắng mà đôi chân con người không thể tới được bằng đường bộ.
Vì mực nước biển vẫn giữ độ cao như hiện nay từ chục ngàn năm qua, cổ-nhân chúng ta nhất-định phải nhờ đến ghe thuyền và đường hàng-hải mới di-chuyển xa được. Trong thời tiền-sử, khi trình-độ kỹ-thuật đi biển của các dân-tộc láng giềng còn thô-sơ kém cỏi, dân Việt rất xứng-đáng để được ghi-nhận công-lao hàng đầu về hải-nghiệp.

Những tiến-bộ của Đông-Nam-Á so với các nơi khác trên thế-giới. (Hình trong "New Light on a Forgotten Past", Wilheim G. Solheim II, National Geographic,V. 139,N. 3, March 1971: 330.)
3 - Người Việt đè bẹp bão tố
Người Việt có sự liên-hệ văn-hoá với Trung-Hoa rất sớm, ít nhất cũng kể từ khi nhà Tần gửi quân Nam-xâm, thế-kỷ 3 trước Tây-lịch (TTL.). Những nhận-xét của họ về hàng-hải Việt thời cổ đã được chúng tôi đề-cập trong một số bài viết khác nhau. Sau đây người viết xin trình-bày khả-năng hàng-hải của dân ta qua những lời phê-bình của người Tây-phương
Nhiều lời khen ngợi dân Việt đi biển được dẫn lại trong sách của Jean Chesneaux, cuốn "Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne"€, bản địch Anh-ngữ: "The Vietnamese Nation - Contribution to a History,"
- Nhật-ký của George Windsor Earl
Nhà hàng-hải George Windsor Earl viết trong sổ nhật-ký của ông trên đường dẫn lộ một chiếc thương-thuyền đến Singapore vào đầu thế-kỷ thứ 18 như sau:
"... Bão táp thật dữ dội ngoài biển khơi, thiếu chút nữa thì thương-thuyền của chúng tôi bị gẫy đổ cả cột buồm. Thời-tiết đã tiếp-tục xấu như thế trong nhiều ngày. Vậy mà khi đang thận-trọng dẫn tàu vào eo biển, chúng tôi chợt nhận ra 6 chiếc thuyền nhỏ của người Việt-Nam đang giương hết mọi cánh buồm, cứ thản-nhiên như không, tiến thẳng tới trước. Mấy người mại-bản Trung-Hoa đi trên tàu chúng tôi, đứng sững sờ ngắm nhìn những dàn buồm no gió một hồi... rồi sau khi nhận-diện được, họ la lên một cách thán-phục: "Lại mấy người Việt đấy, thật lỳ quá trời..." Tôi nghĩ (lời Thuyền-trưởng George Windsor Earl): Mấy người Việt đó đang lèo lái những con thuyền bé nhỏ mà cách-thức vận-chuyển để vượt sóng lượn gió thật là tài-tình.
Tài ba của họ không thua kém bất cứ một thủy-thủ-đoàn hạng nhất nào của toàn khu-vực Âu-Châu. Đoàn thuyền bé tí teo đó không có một chiếc nào vượt quá 50 tấn, vậy mà những người đi biển này có thể đè bẹp cả sóng gió Biển Đông vào giữa mùa bão-tố. Đã qua 20 năm rồi, rất ít thương-thuyền nào của công-ty chúng tôi dám thử hải-hành trong giữa mùa biển động như vậy..."
Ông còn viết thêm nhiều câu rất cảm-động, thí-dụ như: "Thật thú-vị nếu được quen biết với những người Việt-Nam này. Tính-tình họ năng-động, ngôn-từ lại hoạt-bát như dân Pháp. Khi đến buôn bán ở Singapore, họ đã phải khéo léo trong sự cạnh-tranh. Hoàn-cảnh sinh-hoạt của họ thật sự khó khăn vì chính sách bế-môn tỏa-cảng của triều-đình Việt-Nam. Họ rất can-đảm khi xuất-dương. Thuyền họ lại không trang-bị vũ-khí và như thế có thể là miếng mồi ngon cho bọn hải-tặc."
Vinh-dự thay cho truyền-thống của ngành hàng-hải Việt-Nam! Những câu khen ngợi đó có thể nói là không tiếc lời. Sự suy-tôn về nghề-nghiệp, đề-cao về nhân-cách cùng khâm-phục lòng can-đảm như vậy rất hiếm hoi trong giới hành-thủy. Người Việt như chúng ta ngày nay, nghe thấy cũng còn hãnh-diện lây.
- Thủy-thủ Việt trong Báo-cáo của John Crawfurd
Bác-sĩ Crawfurd đươc chính-phủ Anh đề-cử làm đại-sứ tại hai kinh-đô Bangkok và Huế năm 1822. Tuy bị thất-bại trong công-tác thành-lập một thương-điếm tại Việt-Nam, Ông vẫn giữ những cảm-tính sâu đậm với giới hành thủy Việt-Nam. Bác-sĩ Crawfurd có nhận-xét về khả-năng hàng-hải của dân ta trong mục báo-cáo số 145 như sau:
"... Nếu như người Việt-Nam được phép tự-do viễn-dương thì người ta không thể tìm đâu ra được một sắc dân nào nữa ở Á-Đông mà lại có đầy đủ những đức-tính để trở thành các nhà hàng-hải siêu-đẳng như vậy... Tính họ không những cương-quyết, năng hoạt-động, tôn-trọng hạn-kỳ, mà lại luôn luôn vui vẻ chiều lòng khách hàng... Ghe tàu của họ được các nhà chuyên-môn xét-đoán và mô-tả như là những loại thuyền tốt nhất trong khu-vực Đông-„n, kiến-trúc rất chắc chắn, đủ sức hải-hành ngay cả những khi thời-tiết xấu nhất."
Thêm vào các nhân-chứng (người Anh) này, hai người Pháp (Chaigneau và Vannier) đã làm quan trong triều-đình Việt-Nam và cũng đã từng làm hạm-trưởng các chiến-hạm loại trang-bị 16 súng đại-bác với thủy-thủ-đoàn hoàn-toàn Việt-Nam, bảo-đảm rằng họ là những thủy-thủ can-đảm và thật lành nghề.
- Nhận-xét của John White
Thuyền-trưởng White là một trong những nhà hàng-hải Hoa-Kỳ đầu tiên đến Việt-Nam vào năm 1820. Ông có dịp thăm viếng thủy-xưởng sau này là Hải-quân Công-xưởng Sài-Gòn, cho biết người Việt-Nam là những nhà kiến-trúc tàu bè có khả-năng kỹ-thuật cao nhất, hoàn-tất công-tác thật chính-xác.
John White còn xem xét các ván gỗ đóng thuyền, Ông rất ngạc-nhiên là những hải-xưởng Việt-Nam thời đó lại có đầy đủ vật-liệu cho việc kiến-trúc đến cả loại tàu lớn nhất như Frigate (tức loại chiến-hạm chủ-lực của Hải-quân Hoa-kỳ sử-dụng vào đầu thế-kỷ 19). Ông tận mắt nhìn thấy một tấm gỗ dài rộng tới 120 ft x 4 ft . Vì khổ này lớn quá, gỗ lại rất tốt; vị Thuyền-trưởng Mỹ suy ra rằng rừng Việt-Nam sản-xuất được những loại cây gỗ dùng đóng tàu thuyền tốt nhất thế-giới.
4 - Hải-sử và Bách-khoa
Chính-sử của nước ta ghi lại được một số hoạt-động hàng-hải lẻ tẻ, nhưng tiếc rằng phần viễn-duyên rất ít tài-liệu và đặc-biệt các hoạt-động xuyên-dương của dân ta chưa bao giờ được đề-cập đến. Những người ngoại-quốc, khi muốn tìm hiểu về truyền-thống hàng-hải của người Việt trong cổ-thời, đã gặp nhiều khó khăn.
Cho đến hậu-bán thế-kỷ 20 này mới có một người Việt-Nam đầu-tiên viết một cuốn sử nhỏ bằng ngoại-ngữ với mấy đoạn đề-cập sơ-sài đến các hoạt-động hải-thương của dân ta ở Nam-Hải trong thời Bắc-thuộc. Đó là ông Lê-Thanh-Khôi với cuốn "Le Vietnam, Histoire et Civilisation", xuất-bản năm 1955 ở Paris, France. Vậy mà ông còn bị một tác-giả khác cũng người Việt-Nam phê-bình là nói quá đáng. Không phải chỉ người nước ngoài không biết đến nền cổ hàng-hải Việt mà có cả những người Việt cũng khiếm-khuyết những kiến-thức tương-tự như vậy!
Muốn đi tìm những thành-tích to lớn hơn nữa của cổ-nhân, chúng ta cần cố công lục lọi thêm tài-liệu qua sách vở quốc-tế. May mắn thay, trong cộng-đồng nhân-loại không thiếu những học-giả quan-tâm nghiên-cứu tới những vấn-đề hệ-trọng này.
Bách-khoa từ-điển The New Encyclopaedia Britanica xuất-bản những năm gần đây, về từ-mục Dongson Culture ghi như sau: "Đông-Sơn không những chỉ riêng là văn-minh đồ đồng mà cũng có đồ sắt nữa. Người Đông-Sơn cũng nổi bật với những công-trình bằng đá khối (?!) ... Đông-Sơn là dân đi biển, có thể đã hải-hành và thương-mại khắp vùng Đông-Nam Á-Châu".
Chứng-tích quan-trọng của nền văn-hoá Đông-Sơn ghi-nhận trên các trống đồng cũng cho ta nhìn thấy một phần nào khía cạnh truyền-thống hàng-hải của cổ-nhân. Quang-cảnh được trình-bày rất phong-phú trên hầu hết các cổ-vật còn sót đến ngày nay là sự sinh-hoạt trên thuyền. Có người chuẩn-bị tác-chiến, có người như nhảy múa cùng bầy chim, đặc-biệt lại có người giã gạo. Chắc đây là những chuyến đi xa, kéo dài hàng tháng đến những vùng đất xa lạ nên họ vừa đi vừa chuẩn-bị thức ăn.
5 - Hải-trình Địa-trung-Hải / Đông-Dương
Trong sách "The Junks & Sampans of the Yangtze", G. R. G. Worcester đã viết về hải-lộ thông-thương từ Âu-Châu qua Ả-Rập, „n-Độ đến vịnh Bắc-Việt, cho rằng Hà-Nội đúng là trạm hải-hành cuối cùng giữa Tây-phương và Đông-Á trong cổ-thời. Worcester hình-dung một "hải-trình tơ lụa" như sau: "...có thể đã có những ảnh-hưởng qua giao-tiếp đường biển rất sớm sủa với dân Địa-Trung-Hải, vì người ta tin rằng những thương-gia Phoenicia trên hải-trình tìm kiếm "đường tơ lụa", đã tới Đông-Dương vào năm 650 TTL."
Vào thời đó, nước Văn-Lang của chúng ta đang lúc thịnh-thời và do các vua Hùng (2879-258TTL.) trị-vì.

Những hải-trình tơ lụa giữa Địa-Trung-Hải và Đông-Á mà trạm chót là Cattigara. (Vẽ theo "Exploring Our Country", Stuart Hamer, Follett, Ahlschwede, Gross, Sacramento 1956: 25.)
Hán-sử chép rằng vua Vũ-Đế tạo lập một đường biển tới „n-Độ và vào năm 140 TTL., chuyến hàng gồm có vàng và tơ lụa được đem tới một thành-phố gần Madras.
Phương-tiện chuyên chở cho đường hàng-hải này do người Việt (mà Tàu thường gọi là Nam-Man) phụ-trách. Để phân-biệt Tàu-Việt trong hàng-hải, chúng ta đọc được hai ý-kiến chính-xác sau đây:
- Lin Yu, viết trong nguyệt-san "T'ien Hsia Monthly", cho ý-kiến rằng lúc xưa người Man đi tàu biển. Cho đến cuối triều-đại Lưu Tống (Nam-triều, năm 420-479), có thể người Tàu mới bắt đầu đóng tàu thuyền cho việc hải-thương.
- Friedrich Hirth và W. W. Rockhill, tác-giả của nhiều sách và bài khảo-cứu về hàng-hải Á-Châu, quả-quyết rằng vào đầu công-nguyên, không thể có một tàu thuyền nào của Trung-Hoa hoạt-động trong „n-Độ-Dương, mặc dù người Tàu thường quá-giang theo tàu thuyền của dân (Nam)-Man.
6 - Dân bản-địa Việt-Nam và đân di-cư dều là dân nước, dân thuyền, nhưng không phải người Tàu
Khảo-cổ-học đã đề-cập đến các "dân nước, dân thuyền" tại hai vùng châu-thổ Sông Hồng và Sông Mã. Trong thời-gian nhiều thế-kỷ trước và sau công-nguyên, đất nước ta cũng nhận thêm nhiều người di-cư tới, họ cũng là những dân hàng-hải. Về nhân-loại-học, ông Cl. Madrolle trong bài "Le Tonkin Ancien B.E.F.E.A. XXXVII đã phát-biểu ý-kiến là ở Phước-Kiến có một nhóm Việt-tộc làm nghề chài-lưới, hàng-hải đã dùng thuyền gỗ hay mảng tre có buồm, hàng năm theo gió mùa, nhân gió bấc phiêu-lưu theo dọc miền duyên-hải rồi ghé vào miền trung-châu sông Nhị, sông Mã (Việt-Nam.) Nhóm này cũng có phen xuống cả Nam-Dương, rồi lại nhân tiết gió nồm quay về căn-cứ. Một số đã ở lại sinh sống...
Sau này, tuy người Tàu xâm-chiếm được lãnh-thổ nước ta nhưng họ đã không thể làm tiêu-tan được truyền-thống hàng-hải của dân-tộc Việt. Trong sách Nanhai Trade, học-giả Wang Gungwu, tuy có thể có nguồn-gốc liên-hệ Trung-Hoa, nhưng lại rất khách-quan, đã mạnh mẽ lên tiếng bảo-vệ công-lý cho những người Việt thời đó như sau:
"... Thực-sự phần cốt-cán trong những hoạt-động hàng-hải dọc theo bờ biển Trung-Hoa đều là của người Việt. Vì hầu hết dân-cư miền Nam chưa bị Tàu-hoá ... Vậy thật là lầm lẫn nếu gọi những người Việt hành-nghề thủy-thủ và kiến-trúc tàu thuyền trong giai-đoạn này là người Trung-quốc với chỉ một lý-do là lãnh-thổ của họ bị đặt dưới sự cai-trị của người Tàu".
7 - Kẻ-Chợ (Hà-Nội) trên bản đồ Ptolemy
Sau cuộc viễn-chinh của Alexandre Đại-đế (336-323 TTL) sang „n-Độ, nhiều giao-tiếp đã xảy ra giữa Á-Âu, người Hy-Lạp biết thêm nhiều sinh-hoạt của người Á-Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (khoảng 100-170) phát-triển môn địa-lý, viết sách và hình-dung ra một bản-đồ thế-giới mà tận-cùng về phía Đông-Đông-Nam là bán-đảo Vàng Chersonese và hải-cảng Kattigara (kinh-độ 117 độ Đông, vĩ-độ 8 độ Nam - Kinh-tuyến gốc lấy từ đảo Ferro -Islands of the Blest- quần-đảo Canary.) Nhiều người cho rằng bán-đảo Vàng là Đông-Dương và Kattigara (hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long-Biên (Lugin) hay Hà-Nội ngày nay.
Nói riêng về từ-ngữ hàng-hải, ta có thể hiểu theo như nghĩa người Bắc-Âu thường dùng: Kati là tàu thuyền, Gata là hải-đạo. Như vậy chữ Kattigara nghĩa là chỗ hải-cảng tàu thuyền hải-hành tới.
Ông Bình-Nguyên-Lộc không thỏa-mãn với vị-trí ước-đoán cho rằng Kattigara nằm trong vùng Kẻ Chợ Hà-Nội, mà nghĩ rằng Kattigara có thể là Kẻ Thị Gay, tức thành phố Ghe thuyền. Ông suy ra tên Kattigara chính là địa-danh của thương-cảng Hòn-Gay như ta vẫn gọi ngày nay.
Việc xác-định xem thương-cảng Kattigara ở đâu vẫn chưa thực-hiện được. Theo ý một vài nhà nghiên-cứu, khi biết đúng vị-trí, những cuộc khai-quật chắc chắn sẽ mang lại thêm nhiều hiểu biết mới và giúp chúng ta trả lời được nhiều câu hỏi chưa có giải-đáp về thành-quả hàng-hải và thương-mại của người cổ Việt.
Tác-giả sách "Ancient India as Described by Ptolemy" là J. W. McGrindle, cũng đồng-ý Kattigara là Hà-nội. Nơi trang 9, lời tác-giả ghi-chú : "Trung-Hoa trong gần 1,000 năm đã được biết như là quốc-gia nằm trong nội-địa Á-Châu (inner Asia)". Tại trang 26, ông viết: "... với lý-thuyết rằng Kattigara, điểm xa nhất về phía Đông tới được bằng đường biển, phải nằm gần hay trên cùng kinh-tuyến với với nước Tàu, điểm xa nhất đi đến được qua đất liền".

Vị-trí Cattigara trên các bản-đồ cổ Âu-Châu (phỏng theo "Ancient History Atlas" Michael Grant, Cartograph by Arthur Bank, Mcmillan Publishing Co., Inc., New York, 1971: 75)
Người Âu-Châu thời đó, khi nghĩ đến Đông-phương hàng-hải là nghĩ đến vùng đất quê-hương chúng ta nhiều của cải, đầy vàng bạc châu báu, và cửa biển chính thông-thương ở Hà-nội. Từ trước thời Bắc-thuộc, lưu-vực sông Hồng, sông Mã đã là những trung-tâm hàng-hải cùng thương-mại phồn-thịnh, hàng-hoá đi khắp nơi và có liên-lạc thường xuyên với Tây-phương. Mối giao-thương này chắc chắn sâu-đậm đến mức-độ tất cả những bản-đồ thế-giới do Tây-phương ấn-hành suốt 13 thế-kỷ sau đó, đều cố ghi địa-danh Kattigara. Tuy vậy vì chưa biết sự hiện-hữu của Mỹ-Châu và Thái-Bình-Dương nên trên tất cả bản-đồ cũng như cầu-đồ, vị-trí của Á-Đông được vẽ quá gần với Âu-Châu. Các hải-đồ này cho thấy hình-dạng bán-đảo Hoa-„n thật sai-lầm kèm với vị-trí hải-cảng nước ta nằm trên tọa-độ quá xa về hướng Đông (sai tới 55 độ kinh-tuyến) và cũng quá xa về hướng Nam (sai tới 30 độ vĩ-tuyến.)
Lý-do sự lầm lẫn lớn lao này của Ptolemy được Robert R. Newton phân-tách và giải-đáp chính-xác trong "The Crime of Claudius Ptolemy" ấn-hành năm 1977.
Dù Ptolemy thật sự mắc "trọng-tội" (crime)€ hay không, "hào-quang" Kattigara vẫn nằm trong tâm-tưởng những nhà hàng-hải Tây-phương thời Trung-cổ, nhiều ít thúc-đẩy việc thực-hiện những chuyến viễn-hành và gián-tiếp đưa đến biến-cố Columbus tìm ra Mỹ-Châu. Ai ai bên Âu-Châu cứ cũng tưởng rằng nếu dong buồm hải-hành về hướng Tây-Tây-Nam là sẽ tới được "Hải-cảng [?!] Hà-Nội". Họ nghĩ Á-Châu nằm rất gần đâu đó ở bờ bên kia của Đại-Tây-Dương!
Cho đến khi qua đời vào năm 1506, Kha-luân-Bố không bao giờ từ bỏ niềm tin-tưởng là ông đã thực-sự đặt chân tới ven bờ biển Á-Châu. Xem xét những tài-liệu mà giai-đoạn đó còn để lại, người ta thấy các nhà hàng-hải Âu-Châu thời Trung-Cổ bận-tâm rất nhiều đến việc làm sao đưa tàu tới được Kattigara.
Chắc chắn là phải có sự phán-quyết nào đó của Kha-luân-Bố (Cristoforo Colon) rằng "hải-cảng ước mơ" của người Việt chúng ta nằm gần đâu đó trên hải-trình thám-hiểm, nên người em của ông là Bartholomew Columbus (Bartolome Colon) mới ghi tên Cattigara một cách phỏng-định (?!) lên bản-đồ vùng đất xa lạ "Tân-thế-giới", tức Nam Mỹ-Châu.
Magellan cũng lưu-tâm đến vị-trí Cattigara rất nhiều. Sau khi từ Đại-Tây-Dương vào được Thái-Bình-Dương, ông dẫn hải-đội dọc theo bờ biển Chí-Lợi, viên thư-ký giữ tài-liệu hải-hành của ông là Pigafetta có vẻ bi-quan khi nói rằng :"Cái mũi đất Cattigara mà ngay cả những nhà "Vũ-trụ-học" (!) cũng chưa nhìn thấy thì lúc này không những chẳng thể nào tìm ra mà (chúng ta) cũng không thể tưởng-tượng được là nó ở vào chỗ nào!"
Trong khi băng ngang qua Thái-Bình-Dương, Magellan ra lệnh cho đoàn tàu đi hơi chếch lên phía Bắc-bán-cầu để tiếp-tục hy-vọng tìm ra cảng mơ ước này nhưng cuối cùng đã thất-bại. Đoàn thám-hiểm gồm toàn những tay lang bạt kỳ hồ đó, không những chẳng thấy Cattigara, mà nhiều người đã cùng chung số phận với Magellan, đành bỏ xác lại ở vùng đảo Phi-luật-Tân.
Thật lạ lùng là sau chuyến đi của Marco Polo (thế-kỷ 13), các nhà địa-lý đã không sửa được bản-đồ cho đúng, mà cả sau khi Magellan mất mạng trên đường đi vòng quanh thế-giới (năm 1521), tọa-độ địa-dư của Kittigara vẫn giữ nguyên như cũ. Địa-danh hải cảng này (hay Hà-Nội cũng vậy) do đó được tiếp-tục ghi trên lục-địa Mỹ-Châu trong nhiều thế-kỷ.

Hình phác thảo bởi Bartolome Colon (Columbus) năm 1505. Cattigarra được phỏng-định là ở Nam-Mỹ.

Hình của Bartolome được Grasso vẽ lại.

Dựa theo bản vẽ của Bartolome, Grasso vẽ lại hình-thể địa-cầu "giả-tưởng". Từ phải sang trái: Âu-Châu, Tân-thế-giới, Cattigara (Á-Châu), „n-Độ, và Phi-Châu.
8 - Thương-mại ở Nam-Hải
Đã có nhiều sách do người Âu-Á-Mỹ đề-cập đến các hoạt-động thương-mại vùng Đông-Nam-Á, nhiều ít nói tới những kỳ-công của người Việt Cổ trong ngành hàng-hải, cận-duyên cũng như viễn-duyên.
Như ta biết, trong suốt dòng lịch-sử Á-Đông, dân Trung-Hoa và dân Việt-Nam là hai thế-lực chính đối đầu nhau lâu nhất trên biển cả. Tuy vậy, thực sự chỉ có người Việt độc-hành vì người Tàu lúc xưa không liên-hệ nhiều đến hàng-hải.
Trong sách "Eighth Voyage of the Dragon - History of China's Quest for Sea Power", Hải-quân Học-hiệu Annapolis ấn-hành năm 1982, Bruce Swanson đã mở đề chương 1 như sau: "Lịch-sử hàng-hải Trung-Hoa trong ngàn năm qua biểu-thị đặc-tính nơi sự đối-kháng giữa hai thực-thể văn-minh lớn: nước Tàu có tính-cách lục-địa, ảnh-hưởng Khổng-Tử và nước Tàu có liên-quan đến biển. (Nước Tàu) ở phần trên bộc-phát từ khi thống-nhất trung-tâm miền Bắc, gồm nhiều nước khác-biệt hồi chiến-quốc, vào năm 221 TTL. Suốt hai ngàn năm sau đó, hai triều-đại nhà Hán (220 TTL.- 221) và nhà Đường (618- 907) đã biến-đổi Trung-Hoa thành một đế-quốc tráng-lệ, có căn-bản văn-hoá lục-địa (landbased cultural empire)".
Sau đó Bruce Swanson lại mở đầu chương 2 với lời khẳng-định: "Thời-đại hàng-hải của Trung-Hoa thực-sự bắt đầu vào thế-kỷ thứ 8, thứ 9 khi dân-số miền Bắc nước Tàu tăng lên tới ba lần và khí-hậu thay đổi làm suy-giảm số lượng đất canh-tác."
Trên quan-điểm của một người Á-Đông, Wang Gungwu đã làm một cuộc nghiên-cứu về giao-thương thời cổ trong biển Nam-Hải. Sau đó, vào tháng 6 năm 1956, để phổ-biến kết-quả của công-trình đó, cơ-sở xuất-bản Journal of the Malayan Branch Royal Asiatic Society cho phát-hành một tập sách nhan-đề "The Nanhai Trade - A Study of the Early History of the Chinese Trade in the South China Sea".
Wang mô-tả khá đầy đủ về những hoạt-động hàng-hải trong khoảng 11 thế-kỷ trước khi thành-lập triều-đại nhà Tống, năm 960. Theo đó, thổ-dân người Việt, sau khi đế-quốc Nam-Việt của nhà Triệu bị sụp đổ, vẫn tiếp-tục nắm giữ hầu hết ngành hàng-hải dọc duyên-hải hay đường viễn-duyên đến các nước Đông-Nam-Á và „n-Độ, như đã từng nắm giữ trước kia. Đặc-biệt hải-cảng sầm-uất hàng đầu vùng Đông-Nam-Á vẫn là Luy-Lâu hay Long-Biên (Hà-Nội ngày nay) với vùng hậu-cảng trù-phú nhất đế-quốc là quận Giao-Chỉ. Quận này đóng góp thuế má cho hoàng-đế Trung-Hoa rất đáng kể, số dân-đinh của Giao-Chỉ cao hơn tổng-số tất cả số dân-đinh của 6 quận khác còn lại ở miền Nam Trung-Quốc cộng chung.
Mọi hàng-hoá chuyên chở đường biển ra vô nước Tàu đều từ Giao-chỉ mà ra vô. Đôi khi Quảng-Châu được chia sẻ một phần nhỏ hoạt-động hàng-hải nhưng người Việt cũng vẫn luôn luôn nắm giữ hết hệ-thống thương-thuyền.
Phải đợi đến thời Ngũ-Đại (907-960) và sơ-diệp nhà Tống (960-1279) những thương buôn mới, người Tàu Việt (Chinese- Yủeh) bắt đầu xuất-hiện. Họ là người Việt bị Tàu-hoá hay người Tàu bị tiêm-nhiễm thói thích biển của người Việt bằng cách lập-nghiệp chung với họ.
9 - Đường biển đi Đông-Nam-Á và đi Tây-Bá -Lợi-Á
Người Tây-phương thường nói "cứ có thuyền là đi biển được". Người Việt đóng được thuyền; mà thuyền người Việt lại thật tốt. Việc hải-thương của dân Việt trong thời thượng-cổ cùng các dân-cư khác nằm quanh vùng Biển Đông rất phồn-thịnh. Các hoạt-động hàng-hải vẫn tiếp-tục tiến-triển ngay cả thời-gian sau khi nước ta bị Trung-Hoa đô-hộ .

Trống Đông-Sơn và những hải-trình thương-mại vùng Đông Á và Nam-Á trước Công-Nguyên. (hình trong sách Nu-Sun của Gunnar Thompson, 1989.)
Trước Tây-lịch 6, 7 thế-kỷ, chiến-thuyền Lạc-Việt thời Hùng-Vương đã có hai sàn, những cây nỏ thần được thiết-trí ở trên, người chèo và lái ở dưới. Nhiều kiểu thuyền trang-bị đầy dủ cả bánh lái phía đuôi, mái chèo lái bên cạnh, cây xiếm cố-định ... Hình ảnh được ghi khắc trên nhiều chiếc trống đồng tìm thấy tại lưu-vực các sông Mã, sông Hồng.
Cùng thời này, Trung-Hoa đang trải qua giai-đoạn Xuân-Thu Chiến-Quốc. Tại một nước Việt khác mà vua là Việt-Vương Câu-Tiễn, thủy-quân rất mạnh. Quân-đội nhà vua thường được chuyển-vận bằng đường thủy để hành-quân xa căn-cứ hàng trăm hải-lý.
Trong những thiên-kỷ TTL., người Việt theo nghề hàng-hải đã giao-thương với nhiều nơi rất xa ở vùng Bắc Thái-Bình-Dương mà dấu-tích buôn bán được ghi-nhận rõ ràng như ngà voi, đồ sắt tại Đại-Hàn và Tây-bá-lợi-Á (Ballinger, 1978: 73; Bandi, 1969: 76.) Joseph Needham cùng các cộng-sự-viên của ông người Trung-Hoa cho rằng dân Việt đã thám-hiểm khắp Thái-Bình-Dương, sang tới tận Bắc và Nam-Mỹ.
10 - Đường biển tới Úc-Châu và Tân-Tây-Lan
Như mọi người đã biết, thổ-dân Úc là người gốc từ Đông-Nam-Á. Tổ-tiên họ đã dùng thuyền bè vượt biển sang lục-địa này 60,000 năm xưa.
Theo Tiến-sĩ Wilheim G. Solheim II, người Đông-Nam-Á thuộc nền văn-minh Hoà-Bình đã mang ảnh-hưởng sang Úc-Châu qua những đồ đá mài mà Ông ước-lượng từ hơn 20 ngàn năm trước.
Người Việt cũng tới cả Tân-Tây-Lan. Trong những cuộc nghiên-cứu văn-hoá nghệ-thuật vào năm 1937, Heine Geldern tìm thấy có nhiều liên-hệ trực-tiếp giữa các dân-cư quần-đảo Marquesas và vùng Đông-Á khoảng 600 TTL. Sau đó Geldern lại còn nói rõ ràng hơn, là người Việt vùng Hoa-Nam có thể đã hải-hành tới Tân-Tây-Lan vào khoảng 3 thế-kỷ TTL.
Tuy Tân-Tây-Lan (New Zealand) gần những quần-đảo Polynesia, Mélanesia nhưng nghệ-thuật người Maori tại đó lại tương-tự như nghệ-thuật của những người Việt Cổ ở một nơi xa xăm là Hoa-Nam.
11 - Hải-trình đi Hồng-hải và Địa-Trung-Hải
Trong số các nhà nghiên-cứu hàng-hải có một học-giả người Đức, Ông Herrmann A. đã theo dõi những hoạt-động viễn-dương của dân Việt thời cổ. Ông cho rằng họ buôn bán với bến Adulis ở Hồng-Hải mà sử Tàu ghi là Huang Chih (ngày nay là hải-cảng Massawa.)
Tài-liệu của Ông Herrmann viết vào năm 1913 vẫn còn được bàn cãi. Gần đây, khi các giả-thuyết "Đông-Nam-Á, một cái nôi văn-minh nhân-loại" bắt đầu được phổ-biến rộng rãi, Tiến-sĩ Wilheim G. Solheim II lấy căn-cứ vào chứng-tích khảo cổ mới nhất, tin-tưởng rằng đã có những liên-lạc trực-tiếp giữa Việt-Nam và Địa-Trung-Hải hơn 2,000 năm trước đây.
Nhờ hải-thương, văn-hoá được trao đổi giữa hai vùng Ba-Tư (Persia)/ Trung-Đông và Việt-Nam/ Đông-Dương. Những ảnh-hưởng sâu đậm tr